Bạn đang chọn một kiểu chữ phù hợp?
28/12/2010 | 3 bình luận
"So you need a typeface" là dự án của Hansen Julian, nó là một
hướng dẫn về cách chọn phông chữ (hoặc chỉ cần có cảm hứng) cho một dự
án cụ thể, không chỉ bằng cách duyệt qua các thư viện fonts của bạn.Sử dụng nó như một nguồn tham khảo cho công việc của bạn.
Click vào hình để xem kích thước lớn. – Click vào đây để xem hình gốc của Hansen Julian
Hình ảnh sử dụng một số từ chuyên môn vì thế iDesign sẽ chú thích ở ngoài để bạn tiện theo dõi:
Sans-Serif: Kiểu chữ không chân
Serif: Kiểu chữ có chân.
Spiky Serif: Kiểu chữ có chân nhọn.
Swiss Style: Phong cách Typographic quốc tế (The International Typographic Style).
Geometric: Kiểu chữ đơn giản xây dựng trên hình tròn, hình học hoặc hình chữ nhật. Ví dụ như Futura, Erbar, Eurostile.
Grotesque: Kiểu chữ có nguồn gốc thế kỷ 19. Có một số tương phản trong độ dày của nét. Chữ g thường có đuôi cong phía sau. Các kết thúc của những nét cong thường nằm ngang. Ví dụ Stephenson Blake, Grotesque No. 6, Condensed Sans No. 7, Monotype Headline Bold.
Neo-grotesque: Kiểu chữ xuất phát từ grotesque. Chúng có nét tương phản ít hơn và sử dụng thường xuyên hơn trong thiết kế. Ví dụ như Edel / Wotan, Universe, Helvetica .
Humanist: (Calibri, Johnston, Lucida Grande, Segoe UI, Gill Sans, Myriad, Frutiger, Trebuchet MS, Tahoma, Verdana and Optima, a.k.a. Zapf Humanist). Đây là những dạng cơ bản của kiểu chữ sans-serif, với một số biến thể nét rộng hơn và mức độ dễ đọc hơn so với các font sans-serif.
Tìm hiểu thêm tại đây.
Eric Arthur Rowton Gill (22/2/1882 – 17/11/1940) là một nhà điêu khắc người Anh, nhà thiết kế kiểu chữ, và printmaker , người đã gắn liền với phong trào Art and Craft. Ông là tác giả của phông chữ Gill Sans.
Erik Spiekermann (sinh ngày 30 /5 /1947 tại Stadthagen, Lower Saxony ) là nhà thiết kế và thiết kế phông chữ người Đức. Ông là một giáo sư tại Đại học Nghệ thuật Bremen.
Ông là tác giả của các phông chữ:
- Berliner Grotesk (ban đầu từ năm 1913, số hóa là từ 1979)
- Lo-Type (ban đầu từ 1911-1914, số hóa là từ 1980)
- ITC Officina Sans (1990)
- ITC Officina Serif (1990)
- FF Meta (1991-1998)
- FF Govan (2001)
- FF Info (2000)
- FF Unit (2003)
- FF Meta Serif (với Christian Schwartz và Kris Sowersby , 2007)
Những cách kết hợp kiểu chữ tốt nhất
10/11/2010 | 11 bình luận
Kết hợp các kiểu chữ cho phù hợp là một nghệ thuật. Thật vậy vẻ
đẹp của kiểu chữ là không biên giới. Trong khi không có những quy tắc
tuyệt đối để tuân theo, điều quan trọng bạn cần hiểu và thực hành tốt để
kết hợp chúng khi thiết kế.Bạn có thể thích bài viết:
- Top 10 công cụ quản lý phông chữ trên Web
- 40+ font miễn phí tuyệt đỉnh dành cho nhà thiết kế chuyên nghiệp
- Tìm Hiểu Về Typography
Khi được sử dụng nhiều và cẩn thận, những nguyên tắc này luôn mang lại hiệu quả phù hợp. Bài này sẽ xem xét một số cách thực hành tốt nhất cho việc kết hợp kiểu chữ – cũng như những sai lầm bạn có thể tránh gặp phải.
Kết hợp một Sans Serif với một Serif.
Đây là nguyên tắc phổ biến nhất để tạo ra sự kết hợp kiểu chữ. Phối hợp chữ Sans Serif ở phần đầu và một kiểu chữ Serif ở phần sau. Sự kết hợp này có từ rất lâu nhưng nó vẫn vô cùng tuyệt.Trong ví dụ dưới đây – một bố cục bài viết tiêu biểu – chúng ta có Trade Gothic Bold No.2 kết hợp với Bell Gothic ở phía tay trái. Chúng là hai kiểu chữ Sans Serif.
Tuy nhiên, chúng có biểu hiện khác nhau. Một nguyên tắc nhỏ khi nói đến phần tiêu đề và vấn đề thiết kế phần thân bài, nó không phải tạo sự chú ý lên mỗi font. Trade Gothic không phải là một kiểu chữ vô cảm. Bell Gothic mặt khác năng động và khỏe khoắn.
Để chúng cùng nhau tạo ra sự xung đột không đáng có. Trade Gothic nói tới sự kiện, nhưng Bell Gothic lại hơi vui vẻ. Nên tránh kiểu thiết kế này. Bây giờ hãy nhìn vào ví dụ bên phải.
Chúng tôi đã thay Bell Gothic với Sabon nghiêm túc. Sabon là một mặt chữ có chân (serif) hoạt động rất hợp với Trade Gothic. Cả hai đều tập trung vào sự rõ ràng, đậm nét. Chúng kết hợp rất tuyệt vời.
Tránh dùng loại tương tự.
Kiểu của cùng phân loại, nhưng từ những family typeface khác nhau, sẽ tạo ra sự bất hòa hợp. Cá tính riêng của biệt của chúng không kết hợp tốt với nhau, tạo ra sự rối rắm trong typographic.Trong ví dụ đầu tiên bên trái chúng ta có một tiêu đề với Clarondon Bold, loại có chân lớn. Phần nội dung của hình bên trái là Oficina Serif cũng có chân lớn. Kiểu chữ Serif đậm được biết tới đặc tính của riêng chúng, và chúng muốn thống trị một mình trong khu vực được sử dụng.
Đưa cả hai serif chân chữ lớn với nhau tạo ra sự căng thẳng không cần thiết.
Bây giờ nhìn ví dụ bên phải. Tiêu đề Bold Clarendon ghép với New Baskerville. New Baskerville là một serif linh hoạt chuyển tiếp với glyphs (yếu tố tạo nên chữ) rộng phù hợp với Clarendon Bold. Đồng thời nó hạ thấp phần lưng nên cho phép Clarendon có tất cả tính cách nó muốn.
Sự kết hợp như vậy khá độc đáo. Chọn các kiểu chữ từ những phân loại khác nhau giúp tránh những căng thẳng không cần thiết trong thiết kiểu chữ của bạn.
Chỉ định vai trò riêng biệt
Một trong những cách dễ dàng để kết hợp nhiều font chữ từ một số kiểu chữ là xây dựng một quy luật cơ bản dựa trên vai cho cho mỗi chữ hoặc kiểu chữ. Trong ví dụ tiếp theo, chúng tôi đã sử dụng Akzidenz Brotesk Bold viết hoa trong phần tên tác giả ở đầu trang,Sau đó chúng tôi sử dụng Rockwell bold cho tiêu đề bài viết, và phần giới thiệu là kiểu chữ Bemboo với kích thước khác nhau. Cuối cùng tiêu đề cấp độ 2 là Akzidenz Grotesk Medium.
Chúng tôi đã chỉ định Rockwell cho tiêu đề gây chú ý. Chúng không giống như Sans Serif cho tiêu đề và Serif cho phần thân bài như chúng ta đã thảo luận trước đó. Nhưng trong sự lựa chọn này, chúng ta có sự thay đổi lớn về kích thước, độ đậm và chức năng của từng phông chữ được sử dụng.
Tất cả trong tất cả, có 4 font chữ trong 3 kiểu chữ được sử dụng, nhưng tất cả đều gắn kết vì mỗi chức năng giao cho 1 font được cố định, phân cấp rõ ràng.
Đơn giản để hiểu kiểu chữ (typeface) là những gì bạn thấy như: Kiểu chữ có chân, không chân, có chân lớn, cao, lùn, viết tay v.v. Còn Font là những tên gọi như font Arial Bold, Arial Narrow, Verdana, Futura LTd, Futura Bold v.v.
Tương phản về độ đậm – mỏng
Hãy tạo sự khác biệt về độ đậm để giúp người đọc phân biệt và đi theo thiết kế của bạn.Trong ví dụ bên trái, chúng ta có một sự tương phản không tồi, nhưng rõ ràng chưa đủ "đô" để tạo sự tương phản tốt. Với Myriad Light đặt tiêu đề và nội dung là Minion Bold, chúng có xu hướng đi ngược lại đòi hỏi người đọc chú ý tiêu đề trước.
Bên phải chúng ta có Black Myriad ở trên Minion Medium. Nó có vẻ quá tương phản nhưng rõ ràng người đọc biết cần biết cái gì cần đọc đầu tiên.
Tạo sự phân biệt trong typographic
Sự phân biệt trong Typographic là hiệu ứng kết hợp các biến thể của độ đậm, kích thước, bề dày nét, kerning, căn hàng, và một số yếu tố khác.Một cách dễ dàng để nhìn thấy sự phân biệt của typography là nheo mắt cho đến khi bạn không thể nhìn rõ chữ, nhưng vấn có thể thấy lờ mờ các văn bản để xem tổng thể.
Nếu bạn nheo mắt để nhìn vào các ví dụ dưới. Bạn sẽ thấy cách bố trí bên trái khiến văn bản hòa vào nhau. Trong khi cách bố trí bên phải có sự phân biệt từng khu vực dù ta đã nheo mắt khi nhìn nó.
Không nên có sự nhầm lẫn giữa tiêu đề, nơi mắt bạn đi tiếp tới các phần khác. Sử dụng thông minh về sự phân biệt, phân cấp trong hình ảnh của trang giúp bạn thể hiện rõ thông điệp của mình.
Không kết hợp nhiều loại tính cách của font
Một điều sai lầm thường bị bỏ qua trong typography là không nhận ra tính cách, tâm trạng của từng kiểu chữ. Kiểu chữ có tính cách của riêng nó. Chúng thay đổi mức độ ngữ cảnh, dù không nhiều.Đó vấn đề về kết hợp cá tính của kiểu chữ cho một công việc cụ thể, nhưng đó cũng là vấn đề khi chọn 2 loại font kết hợp.
Trong ví dụ bên trái. Chúng tôi để Franklin Gothic Bold kết hợp với Souvenir. Franklin Gothic đem lại cảm giác vững chắc mạnh mẽ, nhưng cũng đem lại cảm giác sang trọng tinh tế. Nó không dễ thương nhưng hiệu quả. Mặt khác Souvenir vui tươi, giản dị, đẹp đẽ.
Hai kiểu chữ đi với nhau giống như anh lính bảo vệ tòa lâu đài bên cạnh một cô bé đang chơi đùa dưới chân mình nhằm khiến anh ta mỉm cười. Sự kết hợp tâm trạng như vậy rõ ràng không tốt. Kết hợp hai tâm trạng của kiểu chữ khiến người đọc chú ý tới kiểu chữ thay vì tìm một thông điệp của nội dung.
Bên phải, chúng tôi chọn cho Souvenir một người bạn phù hợp hơn. Futura Bold có nhiều tính cách, nó sẵn sàng phù hợp với Souvenir cho một số lý do. Trước tiên cả hai kiểu chữ có chiều cao tương tự, có những glyphs (những nét tạo thành chữ) dạng tròn.
Hai kiểu chữ bổ trợ lẫn nhau, trong ví dụ này chúng tạo ra một niềm vui và tâm trạng lạc quan, không căng thẳng.
Tương phản khác thường
Một thiết kế typography tốt, dễ dàng đọc đòi hỏi có sự chú ý cẩn thận. Tạo ra căng thẳng không cần thiết khi lựa chọn của bạn về chữ gây xung động tính cách. Nếu kiểu chữ bạn chọn có nhiều tình cách, bạn cần có một mặt chữ trung bình để đảm nhận vai trò trung lập.Trong ví dụ của chúng tôi cặp ở cột bên trái là sự kết hợp của Dax Bold và Bernhard Modern. Đây là sự lựa chọn tồi với các lý do mà chúng tôi giải thích.
Trước tiên Dax có glyphs hẹp và độ cao lớn, trong khi Bernhard Modern lại có glyphs rộng và chiều cao ở các chữ không viết hoa thấp. Sau đó Dax là kiểu chữ hiện đại, sáng sủa và informal (không thông thường). Nó là sự phù chợp cho việc truyền tải thông điệp hiện đại. Bernhard Modern mặt khác có sự sang trọng, bình tĩnh, tinh vi và có sự liên lạc mật thiết.
Kết hợp hai kiểu chữ chứng tỏ bạn kém hiểu biết về chức năng của typography.
Hãy nhìn vào sự lựa chọn tốt hơn. Bên phải là Dax Bold đứng với Caslon, một kiểu chữ theo phong cách cũ, nhưng nó đã được hiện đại hóa để kết hợp với kiểu chữ khác. Nó kết hợp rất tốt với Dax trong bối cảnh này.
Tiêu đề với Dax giúp bạn dễ dàng nhận thấy, còn Caslon đứng sang một bên và cung cấp cho người đọc tin nhắn này. Caslon là sự lựa chọn trung lập để tôn Dax rực rỡ hơn.
Tránh kết hợp quá khác nhau
Khi có quá nhiều tương phản khi chọn font nó khiến chúng ta mất cân bằng thị giác.Ở bên trái chúng tôi dùng Antique Olive Nord - loại font đặc biệt đậm, và ở dưới là Garamond Narrow. Sự tương phản đã đi quá xa cần thiết.
Bên phải chúng tôi đã thay Antique Olive Nord bằng Antique Olive Bold đỡ cục mịch. Còn Garamond Narrow được thay bằng một font nào đó đậm hơn – sau khi xem xét thì chúng tôi sử dụng Chaparral.
Chaparral có chiều cao lớn hơn Garamond, về tổng thể nó hiện đại và trung tính hơn để chống lại sự hiện diện đầy cá nhân của Antique Olive Bold.
Giữ đơn giản bằng cách dùng chỉ 2 kiểu chữ
Trong nỗ lực tìm kiếm sự kết hợp trong thư viện font của mình, bạn thường dễ dàng bỏ qua những lựa chọn rõ ràng dễ dàng hơn. Kết hợp bằng phương pháp cổ điển – Một Sans Serif và một SansTrong ví dụ dưới đây, chúng tôi tạo ra một phân cấp rõ ràng, tăng cường khả năng đọc. Nó được thực hiện chỉ với 2 kiểu chữ. Tuy nhiên chúng tôi đã sử dụng tới .. 5 phông chữ; ba phông helvetica Neues và hai phông Garamonds.
Tại sao việc này lại dễ dàng như vậy? Một số yếu tố đã được thực hiện ở đây. Thứ nhất, khi sử dụng font chữ khác nhau từ một kiểu chữ, bạn sẽ thấy trực quan hơn. Thứ hai, chúng tôi đã cố gắng chọn và kết hợp sử dụng những nhóm chữ cổ điển trung lập ở tiêu đề và tương tự như vậy ở nội dung.
Cả Neu Helvetica và Garamond chưa có đủ cá tính riêng biệt, nên chúng có thể bố trí phức tạp với nhau, và cũng được chúng tôi bố trí theo các quy tắc chặt chẽ về thị giác. Đặt các quy tắc và sau đó làm theo, với các kiểu chữ chọn đúng có thể mang lại kết quả tuyệt vời mà lại tốn ít công sức.
Sử dụng kích cỡ khác nhau
Chúng tôi liệt kê nguyên tắc đơn giản cuối cùng: Sử dụng kích thước khác nhau để tạo sự tương phản nhằm phân biệt. Trong ví dụ bên trái, tiêu đề và nội dung có vẻ hòa với nhau thành một cụm (khi bạn nheo mắt). Trong khi nheo mắt và nhìn qua bên phải bạn thấy có sự khác biệt.Bên phải chúng ta có hai phông chữ giống nhau, nhưng khác kích cỡ. TheMix Italic để khá lớn, trong khi New Century Schoolbook được giảm đến một kích thước đủ để đọc rõ, hai kích thước có sự tương phản nhưng không quá nhiều hoặc quá ít.
Sử dụng kích thước khác nhau giúp phân biệt các cấp, tăng thêm sự đa dạng của typographic.
“Chọn font gì?”: 5 nguyên tắc chọn và sử dụng kiểu chữ.
06/09/2011 | 17 bình luận
Đối với rất nhiều người tập sự, nhiệm vụ chọn một font cho
thiết kế quả là 1 bài toán huyền bí. Dường như không có giới hạn để lựa
chọn, font nào phù hợp, độc đáo, kết hợp thế nào cho đẹp?-
Những cách kết hợp kiểu chữ tốt nhất
-
Bạn đang chọn một kiểu chữ phù hợp?
-
Những Font chữ được yêu thích trong năm 2009
Mọi thứ không có công thức, không có quy tắc được đặt ra. Và có vẻ như nó cần cả một quá trình phát triển, trải qua các kinh nghiệm để đem lại cảm giác tốt nhất.
Dẫu vậy bài viết dưới đây dựa trên những kinh nghiệm làm việc của tôi cho việc Chọn và Sử dụng phông chữ.
1. Phù hợp với sự kiện
Rất nhiều sinh viên bắt đầu lựa chọn một font giống như tìm một bài hát để nghe, họ tìm kiếm sự độc đáo, khác biệt nhằm thể hiện cái tôi, quan điểm thẩm mỹ của họ. Cách tiếp cận này là có vấn đề, bởi vì lúc này font chữ được chọn đại diện cho cá nhân.Tốt hơn, hãy chọn font chữ giống như chọn một bộ quần áo để mặc vào buổi sáng. Bạn chuẩn bị đi đâu thì hãy mặc một bộ đồ phù hợp cho sự kiện đó.
Bạn đi ăn cưới thì mặc đồ lịch sự, trang trọng, đi chơi thì thoải mái vui vẻ, nhẹ nhàng, đi làm nghiêm túc nhưng không quá cầu kỳ…Bạn không thể ăn mặc sexy cho một đám tang, hay đi giày cao gót để đi leo núi.
Và cũng như tính cách con người, chúng ta đều có những tính cách khác biệt, và dẫn tới việc đi chọn quần áo bạn sẽ chọn khác nhau, và bạn sẽ có những tủ quần áo khác nhau. Nhưng tất nhiên dù mặc màu khác nhau, kiểu khác nhau thì vẫn cần hợp với sự kiện bạn tham gia.
Font chữ cũng thế, mỗi người có 1 “tủ quần áo” cho các sự kiện của mình, không nhất thiết phải giống nhau, nhưng mỗi font được xác định phù hợp với sự kiện tương ứng.
Những nhà thiết kế chuyên nghiệp đều có những bộ font được quản lý như vậy. Thông thường những font có sự đa dạng về độ đậm (thin, light, regular, bold, black, condensed, italic..).
Ví dụ như Myriad, Gotham, DIN, Akzidenz Grotesk, Interstate, dành cho kiểu không chân, và một số kiểu có chân như Mercury, Electra và Perpetua.
Một bộ family lớn như Helvetica Neue có thể được sử dụng để gây những ấn tượng, cảm xúc khác nhau. Sự kết hợp mỏng và siêu đậm luôn là niềm thích thú của các nhà thiết kế.
2. Hiểu rõ về các Family: Nhóm các font
Giống như tủ quần áo. Thách thức đặt ra là; trong vô số font bạn sẽ phân loại chúng thế nào. Các mặt chữ có thể được chia nhỏ làm rất nhiều loại. Tuy nhiên chúng ta chỉ cần chia ra làm năm loại chính cho tất cả.
Danh sách phân loại dưới đây không hẳn là hoàn hảo, nhưng nó cũng là một phân loại cho các nhóm chính.
Ban đầu tất nhiên có hai nhóm chính Không Chân và Có chân (chân nhỏ và chân lớn)
a. Geometric Sans – Loại hình học không chân
Thực sự tôi đang kết hợp 3 nhóm khác nhau ở đây (Geometric – hình học, Realist và Grotesk), nhưng đủ thông dụng để nhóm chúng.
Geometric Sans-serifs là những mặt chữ dựa trên những hình dạng hình học nghiêm ngặt. Hình dạng từng chữ của nhóm Geometric Sans thường có các nét cùng chiều rộng và theo xu hướng tối giản “less is more – ít mà hiệu quả” trong các thiết kế của chúng.
Điểm mạnh nhất của Geometric Sans là sáng sủa, khách quan, hiện đại, phổ quát; Điểm yếu nhất là chúng; lạnh lùng, vô cảm, nhàm chán.
Một Geometric Sans đặc trưng giống như một sân bay được thiết kế đẹp; Nó rất ấn tượng, hiện đại và hiệu quả, nhưng chúng ta phải cân nhắc về việc có nên sống ở đó không.
Ví dụ của Geometric/Realist/Grotesk Sans: Helvetica, Univers, Futura, Avant Garde, Akzident Grotesk, Franklin Gothic, Gotham.
b. Humanist San – Loại nhân văn không chân
Những mặt chữ không chân được thiết kế dựa trên nét bút viết tay – chúng sáng sủa như những kiểu chữ hiện đại, nhưng vẫn giữ được một số yếu tố “con người” trong đó. Hãy nhìn chữ “t” để thấy diều này.
Đó là bản chất của Humanist Sans; trong khi các Geometric Sans được thiết kế càng đơn giản càng tốt, thì các dạng chữ của Humanist thường có nhiều chi tiết hơn, ít nhất quán và thường xuyên gồm những nét mỏng kết hợp với dày – một đặc điểm của chữ viết tay.
Điểm mạnh nhất; Hiện đại nhưng không hoàn toàn chối bỏ “tính người” và tình cảm. Điểm yếu nhất: Nó có vẻ như hàng giả và hơi “bê đê”.
Ví dụ: Gill Sans, Fruitiger, Myriad, Optima, Verdana
c. Old Style – Kiểu cổ điển
Còn được gọi là “venice”, đây là những kiểu chữ “Già” nhất, nó là kết quả của nhiều thế kỷ phát triển của nghệ thuật chữ viết.
Mặt chữ Old Style được nhận biết bởi sự tương phản nhẹ giữa các nét (do hạn chế về kỹ thuật in thời đó), các hình thức chữ cong có xu hướng nghiêng nhẹ qua bên trái (giống như Calligraphy nghiêng – thư pháp).
Mặt chữ Old Style tốt nhất khi dùng vào các trường hợp cổ điển, truyền thống, dễ đọc. Còn tệ nhất là… ừm… cổ điển và bảo thủ.
Các ví dụ: Jenson, Bembo, Palatino và đặc biệt là Garamond; mặt chữ được coi là hoàn hảo nhất tới giờ, dù không ít người cố gắng cải thiện nó trong suốt một thế kỷ rưỡi.
d. Transitional và Modern – Chuyển tiếp và Hiện đại
Hệ quả tự nhiên của việc giác ngộ tư tưởng, Transition – Chuyển tiếp (giữa thế kỷ 18) và Modern – Hiện đại (cuối thế kỷ 18, không nên nhầm với Hiện đại của thế kỷ 20)
Kiểu chữ là thành quả của giai đoạn thử nghiệm với dạng hình học, sắc nét, chuyên nghiệp hơn so với những mặt chữ khiêm tốn của phong cách Cổ điển.
Những mặt chữ chuyển tiếp là đặc điểm của sự tiến bộ theo xu hướng này – như Baskerville, một kiểu chữ chuyển tiếp hoàn hảo, xuất hiện sắc bén với người xem mà mọi người tin rằng nó có thể làm “tổn thương” ánh mắt khi nhìn vào nó.
Trong đặc điểm Hiện đại, những nhà thiết kế chữ đam mê sự tương phản rõ ràng giữa các nét (đậm, mỏng), và chân đột ngột gãy ngang từ phần thân – Sự phát triển càng được thôi thúc bởi sự cạnh tranh giữa hai nhà thiết kế mà cùng dùng một mặt chữ tương tự là; Bodoni và Didot.
Mặt tốt nhất của chúng; mạnh mẽ, phong cách, năng động. Trong khi mặt tệ nhất là chúng vẫn mang hơi hướng baroque cổ điển, buồn hơi so với kiểu hiện đại.
Ví dụ về các kiểu chữ Transitional: Times New Roman, Baskerville.
Serifs hiện đại: Bodoni, Didot.
e. Slab Serifs – Kiểu chân lớn
Còn được gọi như “Egyptian”, Slab Serif có mạnh mẽ và gần đây đang rất được thịnh hành.
Kiểu chân lớn – Slab Serifs thường có những nét giống như kiểu không chân (nét đơn giản và ít tương phản), nhưng chúng dày và “đeo” thêm một hình chữ nhật ở đầu và cuối.
Slab Serifs là một kiểu rất khách quan về tư tưởng – và thường khá mâu thuẫn về tình cảm; đôi khi nó mềm mỏng, đôi khi cứng rắn, đôi khi dữ tợn, đôi khi hiện đại, nhưng cũng thỉnh thoảng chân quê.
Nó có thể truyền đạt một cảm giác công việc, như các phiên bản Heavy của Rockwell, nhưng cũng có thể hoàn toàn thân thiện như Ancher đang được yêu thích.
Slab Serifs dường như mang cá tính thành thị (ví dụ như Rockwell, Courier và Lubalin), nhưng khi áp dụng cho những bối cảnh khác (đặc biệt Clarendon) chúng gợi lại mạnh mẽ những hình ảnh biển báo ở vùng nông thôn Mỹ.
Thật khó để khái quát về Slab Serifs – Kiểu chân lớn. Để độc lập chúng mang một cá tính khác, nhưng khi kết hợp tùy bối cảnh chúng bỗng đổi tính nhanh chóng.
Ví dụ của Slab Seris; Clarendon, Rockwell, Courier, Lubalin Graph, Archer.
3. Đừng là kẻ yếu đuối; Nguyên tắc tương phản quyết định thành công
Không chỉ là nguyên tắc cho việc kết hợp các kiểu chữ, mà nó là nguyên tắc cho tất các sự vật hiện tượng trong cuộc sống. TƯƠNG PHẢN.Đơn giản, nếu tất cả cùng cong thì không có cái nào thẳng, tất cả cùng tốt thì không có kẻ xấu… tôi không muốn đi sâu hơn về sự tương phản. Chỉ nhắc lại là, yếu tố Tương Phản là một yếu tố cực kỳ cần thiết trong nghệ thuật.
Giữ gần như tương tự hoặc khác biệt hoàn toàn – đừng do dự.
Việc sử dụng kiểu chữ đừng khiến người xem đặt câu hỏi về sự khác biệt giữa hai phông chữ. Bởi vậy đơn giản bắt đầu bằng việc dùng hai loại khác nhau trong 5 loại trên.
Hãy xem ví dụ dưới, khi mà tôi đặt Helvetica "vô cảm" đối mặt với một kiểu chữ Old Style, Bambo là một lựa chọn hợp lý. Chúng thoải mái chia sẻ vị trí trên cùng một trang.
Tuy vậy thật không may, không phải cứ đặt hai phông khác biệt hoàn toàn là bạn đã có một kết quả typography tốt. Ví dụ như Garamond và Caslon không đem lại kết quả tốt. Thông thường chúng ta khó để tìm lý do thực sự cho việc Bambo và Helvetica lại bổ xung tốt cho nhau.
Nhưng ít ra cũng có vài chi tiết khiến chúng ta có thể để ý tới; thường thì hai kiểu chữ làm việc tốt với nhau khi chúng có 1 điểm chung nào đó, còn tất cả còn lại hoàn toàn khác biệt. Sự khác biệt này có thể là hình ảnh (tương tự về x-height hoặc độ dầy nét), hoặc chúng có cùng một thời điểm thiết kế.
Những phông chữ cùng một giai đoạn thường cộng tác tốt với nhau. Hoặc cùng một nhà thiết kế thì càng tốt ("rất tiếc" Điều này lại khiến bạn phải nhớ về lịch sử từng font chữ).
4. Một chút cũng có thể là 1 bước tiến dài
Đây thực ra là một phần của nguyên tắc tương phản. Hãy nhấn nhá, điểm xuyết một chút khác biệt nếu có thế. Giống như bạn dùng màu, toàn bộ màu xanh, nhấn thêm chút màu tương phản với nó là đỏ, và ngược lại.Hãy chú ý tới sự khác biệt của các phông và sử dụng hợp lý. Ví dụ; bạn không nên dùng một phông kiểu chữ thảo cho toàn bộ thiết kế. Hãy đặt đâu đó một vài kiểu chữ không chân để làm nên sự khác biệt.
Quy tắc số 5: “không có quy tắc”
Đó là sự thật, chưa có một công thức cho việc sử dụng chữ. Việc sử dụng kiểu chữ luôn đem tới những ngạc nhiên khác nhau, nhất là nó phụ thuộc vào bối cảnh sử dụng, ỹ nghĩa ngôn từ… vì thế không có quy tắc nào phải tuyệt đối tuân theo.Hãy thử nghiệm với những kiểu chữ mà bạn yêu thích, rồi tự tạo cho mình một cách sử dụng, kiểu kết hợp theo ý bạn. Lời khuyên này gần gũi với phong cách hiện đại, khi mà đỉnh cao của quy luật là không có quy luật. Tuy nhiên để đạt được điều này bạn cần nhuần nhuyễn các cách sử dụng và kiểu kết hợp của những người đi trước.
Kết luận
Hy vọng rằng 5 nguyên tắc này giúp bạn có thể có một số kiến thức nhất định để chọn và áp dụng kiểu chữ. Cuối cùng việc sử dụng và kết hợp kiểu chữ cần sự thực hành, trải nghiệm với việc sử dụng nhiều hơn.
Một lời khuyên tốt nhất mà tôi từng có là: Hãy chọn một kiểu chữ mà bạn thích, sau đó sử dụng nó liên tục – điều này giúp bạn không bị rối loạn bởi muôn vàn kiểu chữ. Hơn nữa nó khiến bạn phải động não khi chỉ sử dụng ít font chữ, và dĩ nhiên số lượng không bao giờ bằng được chất lượng.
Một số điều cần biết về phông chữ
19/08/2011 | 1 bình luận
Phông hay Font là tập hợp hoàn chỉnh các chữ cái, các dấu câu,
các con số, và các ký tự đặc biệt, theo một kiểu loại, định dạng (thường
hoặc đậm nét), hình dáng (thẳng hoặc nghiêng) và kích cỡ phù hợp và có
thể phân biệt khác nhau.-
Thuật ngữ dành cho bạn yêu Typography (A-B-C)
-
Bạn đang chọn một kiểu chữ phù hợp?
-
Những Font chữ được yêu thích trong năm 2009
Thường thuật ngữ “typeface” – mặt chữ hoặc kiểu chữ – được dùng không đúng để chỉ về kiểu loại. Có ba loại font chữ: font Bitmap, font PostScript và font True Type. Mỗi loại lại có hai phiên bản: font màn hình (screen font) và font máy in (printer font).
1.Font Bitmap
Được tạo ra bằng cách sử dụng ngôn ngữ trình bày của Quick Draw. Chúng được xây dựng từ các điểm nhỏ trên màn hình và được tận dụng độ phân giải 72 dpi của màn hình để thiết kế.
Font Bitmap luôn được đặt tên đại diện cho thành phố. Ví dụ: Geneva, New York, Monaco, Athent, Cairo… là tất cả những font Bitmap.
Đừng bao giờ sử dụng một font mang tên một thành phố trừ khi đang sử dụng máy in Quick Draw. Máy in lasser và các thiết bị xuất khác như máy ghi phim chẳng hạn không thể đọc font Bitmap.
2.Font PostScript (outline font)
Được thiết kế bằng những công thức toán học viết trên ngôn ngữ Postscript, đúng hơn là bằng những điểm vuông nhỏ, mỗi công thức toán học tạo ra một ký tự bằng cách vẽ một hình bao thanh nhã và không bị méo, sau đó máy in sẽ lấp kín bên trong với những chấm có độ dày tuỳ theo độ phân giải tối đa của máy.
Khác với các ảnh bitmap, các công thức toán tạo nên các cung tròn và các đường thẳng duyên dáng của kí tự hình bao. Đọc những công thức, mọi máy in Postscript có thể tạo ra những font và thu phóng chúng đến một kích thước bất kỳ và độ phân giải phù hợp.
Máy in có thể thay đổi dễ dàng cỡ chữ của font outline mà không làm méo dạng như đối với font bitmap (có thể chúng ta sẽ cần giảm trọng số của các cỡ font chữ bé bằng một quá trình gọi là hinting, để khỏi bị mất những chi tiết tinh tế).
Các font outline thường có cài sẵn trong nhiều loại máy in laser hoặc được tải xuống từ đĩa. Hãng cung cấp hàng đầu các loại font outline là Adobe System, Inc.
Font PostScript in ra rất đẹp và nếu có sử dụng ATM thì chúng hiển thị trên màn hình cũng rất đẹp. font outline thì không bao giờ được đặt tên theo tên thành phố. Ví dụ các font outline: Avant Garde, Bookman, Helvetica, Times…
Thực tế, font outline cấu tạo gồm hai phần: Phần một là font màn hình (screen font) mà thực tế là một sự diễn dịch hình ảnh của font outline. Máy tính sử dụng font màn hình để hiển thị loại trên màn hình.
Phần hai của font outline là font máy in (printer font), là dữ liệu kỹ thuật số của máy in PostScript sử dụng để in ra giấy.
3. Font True Type
Một công nghệ tạo font chữ kèm theo System 7 của hãng Apple Computer và Microsoft Windows 3.1 là họ đưa ra các font chữ có thể thay đổi tỉ lệ cho màn hình và máy in của các hệ Macintosh và Window, do Apple Computer và Microsoft Coorporation hợp tác xây dựng.
TrueType là một công nghệ font tương đương với PostScirpt. TrueType không đòi hỏi phải có một trình tiện ích bổ sung hoặc một chương trình điều khiển bằng vi xử lý đắt tiền.
Các font chữ TrueType mà chúng ta nhìn thấy trên màn hình hoàn toàn giống như sẽ nhìn thấy khi in tài liệu đó ra. Hơn nữa các font True Type đều có thể thay đổi ti lệ, có nghĩa là không có vấn đề gì khi chọn cỡ font, chúng sẽ nhìn thấy chính xác cỡ đã chọn trên màn hình.
Với True Type, chúng ta có thể in các tài liệu của mình trên các hệ máy tính khác hoặc máy in khác mà không phải định khuôn thức lại cho các font đó. Ngay cả với các loại chương trình như WordPerfect 6. 0 for DOS hiện nay, chúng ta cũng có thể sử dụng các font True Type được lưu trữ trong thư mục phụ System của Windows.
Font True Type là sự ứng dụng kỹ thuật của Apple. Nó nhìn mịn trên màn hình ở mọi kích cỡ và vẫn có thể in nếu thiếu bất kỳ biểu tượng font máy in nào tại mọi nơi. Chúng ta cần dự trữ một biểu tượng độc lập, là nơi trữ tất cả những font khác. Những biểu tượng của font True Type có 3 chữ A.
Font True Type in ra trên mọi máy in thì sạch sẽ và dễ đọc, và nếu in bằng một máy in không phải PostScript thì chắc chắn chúng ta có thể thích chúng.
Chúng ta cũng có thể sử dụng cả hai: font PostScript và font True Type. Nhưng đặc biệt, hỗn hợp font PostScript và font True Type luôn luôn có tên tương tự nhau. Ví dụ: Không có font Helvetica True Type và font Helve PostScript được cài đặt trong cùng hệ thống font.
Các kiểu font.
1.Serif (chữ có chân)Vạch ngang mảnh ở đầu các nét chính của một ký tự. Đối với chữ in thường thì các font serif dễ đọc hơn, tuy nhiên nhiều nhà thiết kế thích dùng các kiểu chữ sans serif cho chữ màn hình.
2.Sans Serif (chữ không chân)
Một kiểu chữ in không có chân (gạch ngang hoặc đường cong mảnh ở đầu các nét chính của ký tự). Helvetica và Arial là hai font chữ không dễ đọc.
Các kiểu chữ không chân được ưa dùng để làm chữ màn hình, nhưng khi dùng làm chữ in thường thì khó đọc hơn so với chữ có chân, như Times Roman chẳng hạn.
3.Symbol
Là loại font chữ mà các ký tự có hình dáng những ký hiệu đặc biệt, những biểu tượng, thường dùng vào mục đích trang trí.
4.Display
Là một loại font chữ hiện đại, thường dùng vào các mục đích quảng cáo, trang trí.
5.Script
Là loại font chữ mà các ký tự có hình dạng dựa theo các kiểu chữ viết tay sử dụng bút mực, có nhiều nét hoa mỹ, các nét thường nối liền nhau và dáng ký tữ thường hơi nghiêng.
Phần 2: Sơ lược về lịch sử hình thành và phân loại phông
I.Font PostScript Type 1Được phát triển từ hãng Adobe vào cuốt thập niên 80 bởi sự ra đời của ngôn ngữ PostScript. Năm 1990, Adobe công bố phần mềm quản lý font Adobe Type Manager (ATM), cho phép hiển thị font Type 1 trên máy tính Macintosh, một cách sắc nét ở bất kỳ kích cỡ nào.
Font Type 1 in được trên cả máy in PostScript và không PostScript.
II.Font PostScript Type 3
Ra đời sau font Type 1 cũng vào cuối thập niên 80 do các nhà sản xuất khác (không phải hãng Adobe) phát triển. Điều đặc biệt là font Type 3 không có Hinting.
Hinting là một thuộc tính tích hợp bên trong một font để giúp cho máy in biết được việc giữ tỉ lệ các đường in tạo thành một ký tự. Ví dụ đối với chữ M hoa.
Hai nét gạch đứng có cùng chiều dài và chiều rộng. Nếu không có hinting, máy in có thể in một nét bằng 3 điểm in của máy và nét kia bằng 4 điểm in. Hinting sẽ đảm bảo sự bằng nhau về chiều dài và rộng của cả hai nét này.
Dù cả font Type 3 và Type 1 được viết dựa trên ngôn ngữ PostScript của hãng Adobe nhưng font Type 3 khi xuất ra sẽ không được chính xác như Type 1 và nó có thể dẫn đến việc nhảy chữ và các thuộc tính Kerning – Tracking bị thay đổi và điều quan trọng là font Type 3 không tương thích với ATM và các máy in không phải PostScript. Chính vì vậy mà người ta rất ít sử dụng font Type 3.
III.Font True Type
Được hãng Apple công bố chính thức vào năm 1991 và tích hợp vào hệ điều hành Mac OS của mình. Đến đầu măm 1992 thì Microsoft đưa font True Type vào hệ điều hành Windows 3.1 và font True Type trở thành tiêu chuẩn cho Windows đến ngày nay, nó vừa in được trên máy in PostScript và không PostScript.
Chính vì vậy mà trình quản lý font trong Control Panel của Windows chỉ có thể quản lý được font True Type.
Phần 3: Thành phần các loại Font
Như đã trình bày ở trên, người ta rất ít sử dụng font Type 3, vì vậy phần này chỉ đề cập đến font Type 1 và font True Type.I.Font Type 1:
Loại font chữ tương thích với PostScript, bao gồm cả công nghệ thay đổi ti lệ font sở hữu riêng của Apple System, nó cải thiện độ rõ ràng của chữ khi độ phân giải thấp và co chữ nhỏ.
Gồm 2 thành phần là font màn hình và font máy in
1.Font màn hình (Screen font) còn gọi là font bitmap:
Là những gì chúng nhìn thấy trên màn hình làm nhiệm vụ hiển thị font trên màn hình. Nó là phần hình ảnh của font outline mà máy tính đọc. font màn hình là hình ảnh, bởi chúng là đại diện cho những điểm trên màn hình.
Mặc dù chính xác chúng chỉ là sự hiển thị để nhìn của font outline sẽ in thực sự ra giấy, cần phải lắp đặt font màn hình bitmap để sử dụng cho việc in ấn font outline.
Tuy nhiên cũng có một số font bitmap được viết kèm với kích cỡ font chẳng hạn font FZhand10, đây thực sự chỉ là font bitmap không có thành phần outline, chữ trên màn hình bị gai nhưng chúng ta vẫn có thể in ra máy in PostScript được (dĩ nhiên là cũng bị gai).
Nói như vậy có nghĩa là font bitmap thật ra không phải chỉ để hiển thị trên màn hình mà cũng có thể in được (với một số font đặc biệt).
Font màn hình thường được hiển thị ở dạng biểu tượng trong một hộp nhỏ trên có chữ A. Chúng ta có thể double lick vào font màn hình để xem một ví dụ của font.
2. Font máy in (Printer font) còn gọi là font outline:
Là một phần của font outline mà máy in PostScript đọc với mục đích in chữ lên trang giấy. font máy in có biểu tượng của riêng mình và mỗi biểu tượng của các hãng font nhìn đều khác nhau. Nó gồm thuộc tính thu phóng kích thước chữ và chứa đựng thông tin về các đường cong Bézier tạo nên chữ sẽ được chuyển đến máy in PostScript có độ phân giải cao khi ta in ra.
Những thông tin này cho phép font chữ in ra sắc nét, trơn tru ở bất kỳ co chữ nào khi ta đặt trong các ứng dụng; máy in sẽ tự tính toán hình dạng, kích thước ký tự khi in sao cho tương ứng với co chữ được thiết đặt trong ứng dụng. Font Type 1 được máy in in với độ phân giải cao nhất có thể có của máy do đặc tính không phụ thuộc vào độ phân giải.
Các font phải được lưu trữ ngay trong thư mục hệ thống (System folder) hoặc thư mục Extensions trong thư mục System folder và trong thư mục Fonts trong thư mục hệ thống trong hệ điều hành Mac OS 7.1 trở lên.
Chú ý rằng, mặc dù một số font đó không phải lúc nào cũng có thể download . Hầu hết các máy in laser có bộ ROM (Read Only Memory) có những font thường trú. Thông tin outline cho những font đó lưu trữ một cách lâu bền trong máy in hỗ trợ nên máy in có thể sử dụng chúng bất kỳ lúc nào.
Những font thường luôn có mặt như: Avant Garde, Bookman, Helvetica, New Century School Book, Palatino, Times, Symbol, Courier, Zapf, Chancery và Zapf Dingbats. Hầu như các font outline khác được gọi là Downloadable font và chúng ta phải mua chúng từ các hãng font.
Font máy in và font màn hình được thể hiện rất rõ trên máy tính Macintosh. Nếu chúng ta chỉ có font bitmap (hoặc khách hàng khi xuất phim chỉ sao chép font bitmap) ta sẽ thấy font bị gai, không trơn tru trên màn hình và khi in ra các máy in PostScript nó cũng bị gai hoặc có thể máy in báo lỗi thiếu font mà không in được.
Lúc này cần phải dùng chương trình tạo font để tái tạo thêm thành phần font máy in. Vì vậy khi cần sao chép font Type 1 ta phải lưu ý sao chép đủ cả hai thành phần của một font.
Đối với máy PC, một font Type 1 cũng gồm có hai thành phần:
*.PFM và *.PFB. Khi ta sao chép font cũng phải sao chép đủ cả hai thành phần này vì thành phần *.PFM là font metric dùng để nhận dạng font khi nạp vào máy tính còn thành phần *.PFB là thành phần thật sự tạo nên font chữ.
Nếu chỉ có một thành phần *.PFM ta có thể nhìn thấy font khi nạp vào ATM (chẳng hạn) nhưng máy sẽ báo không tìm thấy thành phần *.PFB kết quả là font không sử dụng được. Còn nếu chỉ sao chép thành phần *.PFB thì máy sẽ không nhìn thấy được font khi nạp.
II. Font True Type
Đơn giản hơn, chỉ gồm một thành phần duy nhất. Trên Mac chỉ có dạng một tập tin suitcase và trên PC, tập tin có dạng *.ttf.
Font True Type khi in ra máy in PostScript thường sẽ tự động được chuyển thành dạng PostScript. Tuy nhiên có một số máy in không chuyển font đúng dẫn đến tình trạng chữ bị dính lại, toàn bộ các thuộc tính thiết lập trên ứng dụng bị thay đổi hoàn toàn nhất là ở một số font True Type tiếng Việt.
Trong trường hợp này ta cần sử dụng các chương trình tạo, chuyển đổi font để chuyển đổi font True Type bị lỗi sang dạng font Type 1.
Ghi chú: Một số trường hợp tài liệu sử dụng font Type 1 nhưng khi in, máy in báo lỗi “font not found”, nếu ta không nạp font Type 1 và thay bằng True Type máy sẽ in được. (Ví dụ: Ta thay Type 1 Bách Khoa bằng True Type Bách Khoa). Điều này xảy ra là do tên họ và tên PostScript của font Type 1 không giống nhau.
Ví dụ font Helve ở dạng Normal có tên họ font là Helve nhưng tên PostScript là Helve-Normal. Lúc đó ta cần đổi tên lại cho giống nhau. (Tên họ font và tên PostScript được thay đổi khi dùng Fontographer để mở một font).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét